Phân biệt てあげる/てくれる/てもらう [teageru/tekureru/temorau] | Tiếng Nhật Pro.net

Thứ Sáu, 30 tháng 12, 2016

Phân biệt てあげる/てくれる/てもらう [teageru/tekureru/temorau]

Phân biệt cách sử dụng 「てあげる」「てくれる」「てもらう」
Trước hết mình cùng xem lại nghĩa của 3 từ 「あげる」「くれる」「もらう」
(1) 私は ランらんさんに 本ほんを あげました。
     Tôi đã cho Lan sách.

(2) 私は フォンさん から 本ほんを もらいました。
     Tôi đã nhận sách từ Phong.


(3) ロックさんは (私に) 本ほんを くれました。
     Lộc đã cho tôi sách.

A. Cấu trúc:
N1 は  N2 に ~てあげる
N1 は  N2 に ~てくれる
N1 は  N2 に ~てもらう
* Trong nhiều trường hợp, nếu N1 là người nói và N2 là người mà cả hai đều rõ, thì có thể được lược bỏ (sẽ minh họa cụ thể ở ví dụ bên dưới)

B. Cách sử dụng:
1. 「てあげる」
N1 は  N2 に ~てあげる
+ N1 làm gì đó hoặc làm thay cho N2

(4) (私は)ランさんに本を買かってあげました。
Tôi đã mua sách cho Lan.

(5) (私は) 鈴木すずきさんに本ほんを貸かしてあげました。
Tôi đã cho anh Suzuki mượn sách.

(6) リェンさんはランさんに日本語にほんごを教おしえてあげました。
Liên đã dạy tiếng Nhật cho Lan.

*Lưu ý: Vì 「あげる」biểu thị ý nghĩa “cho” nên sẽ hàm ý ban ơn ai đó, vì thế hãy chú ý hoặc hạn chế sử dụng khi mình làm gì cho ai đó.
Ví dụ:
(5) (私は) 鈴木すずきさんに本ほんを貸かしてあげました。
Tôi đã cho anh Suzuki mượn sách.
=> (私は)鈴木すずきさんに本ほんを貸かしました。

2. 「てくれる」
N1 は  N2 に ~てくれる
(7) ロックさんは(私に)本ほんを買かってくれました。
Lộc đã mua sách cho tôi.

(8) スァンさんは妹いもうとに日本語にほんごを教えてくれました。
Xuân đã dạy tiếng Nhật cho em gái tôi.

(9) 松本まつもとさんは私わたしたちに日本料理にほんりょうりを作つくってくれました。
Chị Matsumoto đã nấu món Nhật cho chúng tôi ăn.

*Lưu ý: N2 là “tôi” “chúng tôi” hoặc những người thuộc gia đình mình, nhóm mình...
+ Trong một số trường hợp, khi muốn nói N1 làm gì đó thay cho mình hoặc giúp cho mình thì thêm 「のために」sẽ rõ nghĩa hơn.
Ví dụ:
(10) 山田やまださんはわたしに詩しを書かいてくれました。
Anh Yamada đã viết bài thơ cho tôi. (tặng tôi)

(11) 山田やまださんはわたしのために詩しを書かいてくれました。
Anh Yamada đã viết bài thơ giúp tôi. (để tôi tặng người khác...)

3. 「てもらう」
N1 は  N2 に ~てもらう
+ Diễn tả N1 nhờ N2 làm giúp điều gì đó. Trong trường hợp này khi N1 là 「わたし」thì thường được lược bỏ.
(12) 木村きむらさんに本ほんを貸かしてもらいました。
Tôi đã nhờ anh Kimura cho (tôi) mượn sách.
(13) 小林こばやしさんに手伝てつだってもらいました。
Tôi đã nhờ anh Kobayashi giúp đỡ.
* Lưu ý:
- Trong câu (12), có thể nói:
木村きむらさんに本ほんを借かりました。
Tôi đã mượn sách từ anh Kimura.
=> Nhưng khi đó hàm ý nhờ vả, mang ơn sẽ không rõ ràng như cách nói của câu (12).
- Ngoài ra, trong cấu trúc N1 は N2 に ~てもらう với N2 không xác định rõ hoặc không cần xác định rõ, và động từ phía sau diễn tả sự vận chuyển... thì sử dụng 「N2から」tự nhiên hơn「N1に」
Ví dụ:
(14) カントーの友達ともだちからお米こめを送おくってもらいました。
Chúng tôi đã nhờ một người bạn ở Cần Thơ gửi gạo cho chúng tôi.

C. MỞ RỘNG
Hình thức khiêm nhường và kính ngữ sẽ có cách nói như sau:
・「てあげる」→ 「てさしあげる」
・「てくれる」→ 「てくださる」
・「てもらう」→ 「ていただく」
(15) 山本先生生やまもとせんせいしょうにペンを貸かしてさしあげました。
Tôi đã cô Matsumoto mượn cây bút. (Khiêm nhường)

(16) ヒェン先生せんせいはわたしに推薦状すいせんじょうを書かいてくださいました。
Thầy Hiền đã viết thư tiến cử cho tôi. (Kính ngữ)

(17) わたしはヒェン先生せんせいに推薦状すいせんじょうを書かいていただきました。
Tôi đã nhờ thầy Hiền viết thư tiến cử. (Khiêm nhường)

Bài viết liên quan: